24 May 2015

Dấu vân tay liên quan đến não bộ như thế nào

Năm 1823 khi các nhà khoa học khám phá ra mối tương quan giữa dấu vân tay và nhiều mô hình trí thông minh của con người. Nghiên cứu y học đã xác nhận rằng sự hình thành dấu vân tay bắt đầu từ tuần thứ 13 và hoàn chỉnh vào tuần thứ 19 của thai kỳ. Trong thời gian này, não bộ thai nhi cũng đang trong quá trình phát triển
 
Mối liên hệ giữa dấu vân tay và não bộ
 
Sự phát triển của não và và những đường vân nổi trên da phát triển đồng thời trong thời kỳ này. Vì vậy có một sự liên quan trực tiếp giữa sự phát triển não bộ và dấu vân tay.
 
Những quốc gia như Nga, Trung Quốc, và Đài Loa, Malaysia, Singapore đã áp dụng kỹ thuật này trong các lĩnh vực như: thể thao, đào tạo, quản trị nguồn nhân lực, tuyển dụng, giải trí và ngay cả định hướng thiên tài.
 
Không may, hầu hết chúng ta có rất ít thông tin cũng như cảm nhận không rõ ràng về tài năng và điểm mạnh của chính bản thân mình. Thay vào đó, chúng ta đươc định hướng bởi cha mẹ, thầy cô, các nhà quản lý, các phương tiện truyền thông, đồng nghiệp, bạn bè. Từ đó chúng ta lại vô tình khai thác điểm yếu của mình và sống cuộc sống bình thường mà lãng quên đi điểm mạnh và tài năng của mình.  
 
Việc này cứ tiếp tục lập lại từ thế này này qua thế hệ khác khiến chúng ta tự hạn chế năng lực của bản thân, thay vì ngày càng trau dồi và vươn xa những năng lực của bản thân.
 
Dấu vân tay liên quan tới não bộ
 
 
Năm 1926 Tiến sĩ Harold Cummins đưa ra lí luận chỉ số cường độ vân tay PI, giá trị RC, số lượng tam giác điểm, hình dạng vân tay, vị trí hình dạng vân tay ở những ngón tay khác nhau có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của con người.
 
Ông nghiên cứu ra rằng dấu vân tay được hình thành đồng thời với sự hoàn thiện các cấu trúc của não bộ. Dấu vân tay được khởi tạo ở thai nhi vào giai đọan từ 13 đến 19 tuần tuổi. Vào giai đọan trước đó, thai nhi không có dấu vân tay đồng thời não bộ cũng chỉ trong giai đoạn hình thành. Khi thai nhi được 19 tuần tuổi cũng là lúc các vùng chính của não hình thành bao gồm cả vỏ đại não.
 
 
Năm 1981, giáo sư Roger W.Sperry và đồng sự đã được vinh danh giải thưởng Nobel trong ngành Y sinh học vì những nghiên cứu về chức năng của não trái và não phải cũng như lý thuyết toàn não. Từ đây những nghiên cứu về não bộ không ngừng phát triển. Những kết quả này đã được nhiều nhà khoa học sử dụng triệt để và áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau.